Cùng với sự phát triển của công nghệ tài chính, cho vay ngang hàng P2P tại Việt Nam đang phát triển nhanh chóng. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng xem xét những tiềm năng phát triển cũng như những vấn đề kinh doanh xung quanh hình thức này.

Tiềm năng phát triển mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Theo các chuyên gia công nghệ tài chính ngân hàng, động lực thúc đẩy cho vay ngang hàng ở Việt Nam đến từ tỷ lệ sử dụng Internet và Smartphone gia tăng cùng với nhu cầu vay vốn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển cho vay ngang hàng P2P tại Việt Nam.

Mô hình này một mặt đáp ứng nhu cầu vốn phi chính thức, đa dạng hóa kênh đầu tư. Mặt khác, đây cũng là giải pháp hữu hiệu giúp cân bằng tài chính, có tác động làm giảm thiểu các tổ chức cho vay nặng lãi đang diễn biến phức tạp tại Việt Nam. Do vậy, hiện nay Việt Nam rất quan tâm và mong muốn có thể vừa kiểm soát tốt, vừa hỗ trợ cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của các loại hình kinh doanh này.

Trong khi khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của cả người dân lẫn doanh nghiệp vẫn còn thấp thì xu hướng này cần được khuyến khích và đẩy mạnh phát triển. Việt Nam hiện có các mô hình cho vay ngang hàng theo chiều hướng kết nối thông tin giữa người vay và người cho vay tiêu biểu như: Tima, Mofin, Vaymuon và Huydong.

Vaymuon là một ứng dụng kết nối giữa người vay và người cho vay Vaymuon là một ứng dụng kết nối giữa người vay và người cho vay

Trong số 4 công ty nêu trên thì các công ty như Mofin, Vaymuon và Huydong được xem như là những công ty tiên phong hướng tới xây dựng một mô hình cho vay ngang hàng bằng tín chấp và vận hành 100% online. Đơn vị còn lại là Tima vẫn còn nhiều thủ tục gặp gỡ trực tiếp giữa nhà đầu tư và người vay và mô hình này còn đang lai ghép giữa tín chấp và thế chấp.

Khung pháp lý chính của Việt Nam đối với hoạt động cho vay P2P như thế nào?

Thời gian qua, tại Việt Nam, một số công ty đăng ký ngành nghề kinh doanh là tư vấn tài chính, môi giới tài chính và tự giới thiệu là các công ty cho vay ngang hàng cung cấp dịch vụ kết nối nhà đầu tư và người đi vay, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định về mô hình cho vay ngang hàng.

Tại Việt Nam hiện vẫn chưa xây dựng khung pháp lý cho mô hình kinh doanh cho vay ngang hàng p2p Tại Việt Nam hiện vẫn chưa xây dựng khung pháp lý cho mô hình kinh doanh cho vay ngang hàng p2p

Theo nguyên tắc chung theo Luật Đầu tư của Việt Nam, cho vay ngang hàng P2P không phải là một ngành nghề kinh doanh bị cấm và không có điều kiện để kinh doanh. Đây có lẽ là cơ sở pháp lý thuận lợi nhất để cho vay P2P được thực hiện tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Không có quy định cụ thể nào về việc cho vay P2P, nó có thể được coi là một nền tảng giao dịch thương mại điện tử giữa người cho vay và người cho vay. Tuy nhiên, dựa trên cho vay để kiếm lợi nhuận được coi là hoạt động của ngân hàng và bị hạn chế ở các tổ chức tín dụng theo luật pháp Việt Nam. Mặt khác, pháp luật nghiêm cấm lợi dụng tên của các hoạt động kinh doanh thương mại điện tử để huy động vốn bất hợp pháp từ các thương nhân, tổ chức và cá nhân khác. Đây có lẽ là lý do tại sao hầu hết tất cả các doanh nghiệp cho vay P2P không đăng ký làm sàn giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam.

Trên thực tế, do các công ty cho vay P2P và tất cả các công ty khác ở Việt Nam phải đăng ký hoạt động kinh doanh, công ty cho vay P2P tại Việt Nam chủ yếu đăng ký tư vấn đầu tư, dịch vụ tìm kiếm thông tin qua hợp đồng, dịch vụ hỗ trợ tư vấn tài chính, hoạt động môi giới, v.v.

Những vấn đề về pháp lý mà công ty cho vay ngang hàng P2P tại Việt Nam phải đối mặt

Do không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, nên một số công ty cho vay ngang hàng P2P tại Việt Nam đã lợi dụng việc thiếu thông tin, thiếu hiểu biết của người dân dẫn đến nhà đầu tư hiểu nhầm việc các hoạt động đầu tư/cho vay qua các nền tảng của cho vay ngang hàng đều được bảo hiểm rủi ro. Đặc biệt, nó đang dần xuất hiện những hoạt động biến tướng, vi phạm pháp luật về ngân hàng và tín dụng. Vì thế, nó đang tiềm ẩn những rủi ro đối với xã hội mà các cơ quan nhà nước nên can thiệp để quản lý và ban hành khung pháp lý để nó có thể chịu trách nhiệm với việc kinh doanh của mình. Trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện đang xây dựng kế hoạch cho phép một số công ty có năng lực tài chính tốt để thí điểm các doanh nghiệp cho vay P2P. Sau đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể bổ sung cho vay P2P vào nhóm ngành nghề có điều kiện kinh doanh để thắt chặt quản lý.

Vấn đề thứ hai đó chính là liên quan đến lãi suất vay. Do không có quy định quản lý, lãi suất cho vay trong giao dịch sẽ được các bên đồng ý và không được vượt quá 20%/ năm đối với mỗi khoản vay. Vì thế, nếu trong giao dịch mà xuất hiện giao dịch với mức lãi suất vượt quá mức đã được quy định, sẽ bị phạt hành chính và có thể cấu thành tội cho vay nặng lãi trong các giao dịch dân sự theo Bộ luật Hình sự.

Theo quy định lãi suất của mỗi giao dịch không được vượt quá 20%/năm Theo quy định lãi suất của mỗi giao dịch không được vượt quá 20%/năm

Vấn đề thứ ba là trách nhiệm của doanh nghiệp cho vay P2P đối với khoản vay. Do không có các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay P2P và trách nhiệm của các công ty cho vay P2P, nên trách nhiệm của công ty cho vay P2P trong trường hợp người vay không trả được nợ sẽ dựa trên luật dân sự và các thỏa thuận được ký giữa các bên. Do đó, nếu các thỏa thuận, quy tắc và quy định không được chuẩn bị tốt, các khoản vay không được quản lý tốt. Nếu các công ty cho vay không thậm định chắc chắn trước, nó sẽ dễ dẫn đến sự gia tăng các khoản nợ xấu và khiếu nại về trách nhiệm của các công ty cho vay P2P khi nợ xấu phát sinh.

Thứ tư là vấn đề thanh toán. Một số doanh nghiệp cho vay P2P đóng vai trò trung gian thanh toán giữa người vay và người cho vay nhằm mục đích kiểm soát thông tin của khoản vay và thu phí. Hoạt động này có thể đối mặt với rủi ro được coi là một doanh nghiệp trung gian thanh toán, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép. Việc cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán mà không có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể bị phạt hành chính và tịch thu tiền thu được.

Thứ năm, liên quan đến hoạt động chống rửa tiền, các tổ chức thực hiện các hoạt động tài chính hiện đang được yêu cầu tuân thủ các quy định chống rửa tiền rất nghiêm ngặt của Luật phòng chống rửa tiền. Các hoạt động cho vay P2P không bị chi phối bởi các quy định chống rửa tiền có thể dẫn đến rủi ro rằng hoạt động cho vay P2P không thể kiểm soát các hoạt động rửa tiền có thể phát sinh trong các giao dịch cho vay và rủi ro tiềm ẩn từ các hoạt động rửa tiền này.

Bài học kinh nghiệm

Rút kinh nghiệm từ bài học về sự bùng nổ của hoạt động cho vay P2P không được kiểm soát tại Trung Quốc, dẫn đến sự sụp đổ của hàng trăm nền tảng P2P trong năm 2018. Và đang có xu hướng là chuyển dẫn sang Việt Nam trong thời gian gần đây của một số nền tảng cho vay P2P. Thì Chính phủ đang nghiên cứ để ban hành các quy định pháp lý trong thời gian tới nhằm mục đích quản lý, kiểm soát, ngăn ngừa rủi ro và các hình thức tham nhũng khác từ cho vay ngang hàng P2P tại Việt Nam. Trong thời gian này, các nhà đầu tư cho vay P2P nên dành nhiều thời gian để nghiên cứu kỹ các quy định có liên quan của Việt Nam để định hướng hoạt động kinh doanh của mình và tránh các rủi ro vi phạm pháp luật. Các nhà


Fintech Việt Nam là cổng thông tin cập nhật về công nghệ trong lĩnh vực Fintech tại Việt Nam và các xu hướng Fintech trên thế giới.

Email: info@innotech-vn.com

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here