Với sự phát triển của công nghệ, cho vay ngang hàng (P2P Lending) xuất hiện và trở thành một trong những công nghệ nổi bật của fintech tại Việt Nam và các nước trên thế giới. 

Điển hình là ở Trung Quốc, một trong những thị trường có giai đoạn bùng nổ các công ty cho vay ngang hàng. Tuy nhiên, thị trường này sau đó đã nhanh chóng suy sụp. Theo Nikkei, trong năm 2018, số công ty cho vay ngang hàng tại Trung Quốc giảm 25%, xuống còn hơn 1.000. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ là do thiếu các chính sách và cơ chế giám sát đối với lĩnh vực cho vay ngang hàng khiến các hình thức giả mạo xuất hiện, gây mất niềm tin cho nhà đầu tư. 

Tại Việt Nam, theo thông tin từ NHNN, có khoảng 40 công ty cho vay ngang hàng như Tima, Trustcircle, We Cash, Interloan, Lendbiz… hoạt động với 10 đơn vị có nguồn gốc từ Trung Quốc và một số công ty từ Indonesia, Malaysia, Singapore… 

Và ở bài viết này, Fintech muốn cập nhật đến mọi người về vấn đề cho vay ngang hàng ở Trung Quốc. Qua đó, Việt Nam đã nhận bài học kinh nghiệm như thế nào?

Tổng quan về cho vay ngân hàng

Cho vay ngang hàng 

Cho vay ngang hàng P2P lending là mô hình kinh doanh mới, một loại hình dịch vụ sáng tạo, được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính như tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Theo đó, công ty P2P Lending cung cấp nền tảng giao dịch trực tuyến (Platform) để người vay kết nối trực tiếp vay mượn với người cho vay.Toàn bộ hoạt động vay, trả nợ (gốc, lãi) giữa người vay và người cho vay được nền tảng giao dịch trực tuyến ghi nhận và lưu trữ bằng các bảng điện tử, số hoá.

Với hình thức cho vay ngang hàng, những người có nhu cầu vay được cung cấp một dịch vụ cho vay trực tuyến với phí dịch vụ thấp hơn so với những hình thức cho vay truyền thống. Chi phí dịch vụ thấp sẽ dẫn đến kết quả nhà đầu tư thu về mức lợi nhuận cao hơn khi đem so sánh với việc gửi tiết kiệm hay đầu tư vào bất kỳ sản phẩm nào của ngân hàng, đồng thời, người có nhu cầu vay sẽ chịu mức lãi suất thấp hơn.

Theo các cơ quan quản lý, bản chất của cho vay ngang hàng là mô hình kinh doanh mới, dịch vụ sáng tạo dựa trên nền tảng công nghệ số kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính.

Hiện nay, mô hình cho vay ngang hàng P2P lending bao gồm cả hai hình thức: Vay không đảm bảo và vay đảm bảo. Các hình thức cho vay phổ biến hiện nay của mô hình cho vay ngang hàng như: sinh viên vay vốn, vay mua điện thoại, máy tính, các khoản vay tiền, vay tiêu dùng khác… cho vay ngang hàng cũng có thể cho vay tài sản có giá trị lớn như vay mua ô tô, bất động sản… với hình thức có tài sản thế chấp hoặc đảm bảo giống như ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn.

Xem thêm: Cho vay ngang hàng P2P: Những điều bạn nên biết về nó” 

Tại Việt Nam, một số tập đoàn lớn và các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao bắt đầu đẩy mạnh tham gia vào thị trường cho vay ngang hàng. Vậy mô hình cho vay ngang hàng có lợi thế và hạn chế như thế nào?

Ưu điểm của cho vay ngang hàng

  • Mô hình cho vay ngang hàng đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Người đi vay thì được vay với lãi suất tuy cao hơn lãi suất ngân hàng nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với vay từ tín dụng đen hay các công ty tài chính. Người cho vay thì được hưởng lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Đơn vị cung cấp với nền tảng cho vay ngang hàng thì được hưởng phí từ cả hai bên đi vay và cho vay.
  • Cho vay ngang hàng giúp người có nhu cầu vay tiền từ nhà đầu tư mà không cần qua tổ chức tài chính trung gian. Phương thức này hoàn toàn khác với mô hình vay truyền thống bằng việc kết nối người có vốn và người cần vốn thông qua nền tảng trực tuyến mới cùng hệ thống công nghệ tài chính tiên tiến.
  • Cho vay ngang hàng giúp cho các cá nhân và tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ không đủ tiêu chuẩn vay vốn ngân hàng, không có tài sản bảo đảm thế chấp có thể tiếp cận tài chính một cách dễ dàng, góp phần quan trọng giúp các quốc gia trong việc nỗ lực phát triển tài chính toàn diện.
  • Thủ tục cho vay đơn giản, nhanh chóng, chỉ sau 30 phút là khách hàng có thể vay với số tiền linh hoạt từ  một vài triệu đến vài chục triệu.
  • Chi phí hoạt động của nền tảng cho vay ngang hàng thấp do các giao dịch đều được thực hiện trực tuyến một cách nhanh chóng với bộ máy quản lý gọn nhẹ, ít tốn kém.
  • Sự xuất hiện của cho vay ngang hàng sẽ góp phần hạn chế được hoạt động tín dụng đen.

Nhược điểm cho vay ngang hàng

Bên cạnh những lợi ích, mô hình cho vay ngang hàng cũng có một số hạn chế nhất định như:

  • Một số công ty cung ứng dịch vụ đã lợi dụng công nghệ số đưa ra những quảng cáo không minh bạch về mức lợi nhuận, không cung cấp hoặc cung cấp thông tin thiếu chính xác về các rủi ro mà các bên tham gia có thể gặp phải, đưa ra mức lãi suất cao phi thực tế để lôi kéo người cho vay tham gia.
  • Hoạt động cho vay ngang hàng được thực hiện tự động hoá nhờ công nghệ hiện đại và dựa vào niềm tin, do đó thông tin cá nhân của các bên tham gia có thể bị đánh cắp do lỗ hổng bảo mật, hệ thống lưu trữ thông tin có thể bị mất quyền kiểm soát do bị đánh sập bởi các tin tặc.
  • Mặc dù cho vay ngang hàng đã hình thành và phát triển trên thế giới hơn 10 năm và xuất hiện ở Việt Nam hơn 2 năm nhưng vẫn chưa có một khuôn khổ pháp lý chuẩn để quản lý hoạt động này dẫn đến rủi ro cho các bên tham gia như: Đối với người đi vay khi không có pháp luật bảo vệ có thể bị các công ty cho vay ngang hàng chào mới với lãi suất cho vay thấp nhưng lại kèm theo nhiều hình thức phạt làm tăng chi phí cho người vay rất lớn. Đối với người cho vay, họ có thể mất toàn bộ số tiền cho vay nếu người vay không hoặc mất khả năng chi trả vì cho vay ngang hàng không thuộc phạm vi bảo lãnh của Quỹ bảo hiểm tiền gửi của Nhà nước.
  • Các bên tham gia hoạt động cho vay ngang hàng không có sự ràng buộc chặt chẽ về trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau, do đó dễ xảy ra tranh chấp.
  • Hoạt động cho vay ngang hàng chưa được quản lý giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước dễ dẫn đến nhiều biến tướng như lừa đảo, cho vay với lãi suất cao như hoạt động tín dụng đen…. gây ra nhiều hệ luỵ kinh tế và xã hội khó lường.

Chính vì những nhược điểm không thể lường trước này, một số công ty P2P Lending tại Trung Quốc gặp không ít vấn đề. Vậy, vấn đề mà các công ty P2P Lending Trung Quốc gặp phải là gì? 

Vấn đề cho vay ngang hàng tại Trung Quốc

Đến cuối năm 2016, Trung Quốc có số lượng công ty cho vay P2P là 2448, với doanh thu đạt 2.063 tỷ Nhân dân tệ, tăng 110% so với doanh thu năm 2015. 

Đến cuối năm 2017, doanh thu là 3.000 tỷ Nhân dân tệ, tăng 50% so với 2016, trong khi đó, dư nợ của toàn bộ ngành ngân hàng là 120 nghìn tỷ Nhân dân tệ. Hình thức này bắt đầu bùng nổ tại Trung Quốc vào năm 2011 và dần rơi vào tình trạng không được kiểm soát. Các công ty P2P  ngày càng hoạt động biến tướng với hình thức huy động vốn bất hợp pháp hoặc theo mô hình đầu tư đa cấp. Hậu quả là chỉ trong vòng 2 tháng kể từ tháng 6/2018, hơn 400 công ty P2P đã dừng hoạt động và các nhà đầu tư không thể đòi lại tiền. Việc này đã trở thành vấn nạn xã hội khi nhiều nhà đầu tư đình công, biểu tình yêu cầu Chính phủ Trung Quốc phải có biện pháp bảo vệ quyền lợi của họ.

Những bất ổn trên thị trường tài chính phi ngân hàng khiến Chính phủ Trung Quốc phải siết chặt các quy định cấp phép và hoạt động của các công ty P2P. Điều này cũng tạo sự hoảng loạn trên thị trường khi các nhà đầu tư cố gắng rút tiền khỏi các tổ chức cho vay P2P, khiến các doanh nghiệp cho vay P2P quy mô nhỏ gặp vấn đề về thanh khoản. 

Một số lượng lớn các nhà đầu tư đã đổ tiền vào thị trường P2P để tìm kiếm lợi nhuận một cách mù quáng. Do bất đối xứng thông tin nghiêm trọng giữa người đi vay và cho vay, các nhà đầu tư không thể đánh giá rủi ro đầu tư nhưng vẫn cho vay cho dù thiếu thông tin và xếp hạng tín dụng cần thiết.

Kể từ năm 2015, Chính phủ Trung Quốc đã bổ sung 10 biện pháp tăng cường kiểm soát như cấm mở thêm các website cho vay trực tuyến, tăng cường hình phạt đối với các công ty P2P có hành vi lừa đảo; thiết lập chương trình bồi thường cho nhà đầu tư khi các công ty P2P phá sản…

Bài học từ rủi ro của mô hình cho vay ngang hàng tại Trung Quốc

Câu hỏi được đặt ra là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của các công ty cho ngang hàng tại Trung Quốc là gì?

Mặc dù nền tảng cho vay ngang hàng phát triển rất nhanh tại Trung Quốc nhưng nó cũng nhận sự thất bại nặng nề, hàng loạt công ty cho vay phá sản, chủ các công ty này ôm tiền chạy trốn. Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng này là:

– Chính phủ Trung Quốc đã có cách tiếp cận sai đối với hoạt động này, chỉ xem hoạt động cho vay ngang hàng là “hệ thống trao đổi thông tin khoản vay” do đó đã không ban hành các quy định, hành lang pháp lý để kiểm soát hoạt động này từ khi nó mới bắt đầu hình thành. Điều này làm cho các công ty cho vay ngày càng hoạt động biến tướng dẫn đến các hệ luỵ đã xảy ra.

– Mô hình hoạt động của các công ty cho vay còn nhiều lỗ hổng, chưa thể kiểm soát được hết rủi ro xảy ra. Khi công nghệ thẩm định không đủ tốt, khách hàng vay không chi trả hoặc không có khả năng chi trả làm mất niềm tin từ phía nhà đầu tư, khi đó sẽ không gọi được vốn dẫn đến sụp đổ.

– Nhiều công ty cho vay lập ra với các mục đích không lành mạnh như gọi vốn để lừa đảo, huy động vốn rồi chạy trốn làm cho nhiều nhà đầu tư hoang man có thể rút tiền ồ ạt gây hệ luỵ cho các công ty làm ăn chân chính.

– Việc không kiểm soát, giám sát được các hacker hoặc chủ Website cũng là một nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của các công ty cho vay.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự sụp đổ hàng loạt của các tổ chức cho vay ngang hàng tại Trung Quốc chính là lời cảnh báo cho lĩnh vực cho vay ngang hàng tại Việt Nam. Để tránh vết xe đổ của Trung Quốc, Việt Nam khi phát triển hoạt động cho vay ngang hàng cần rút ra một số bài học sau:

– Trước khi cho phép các công ty cho vay hoạt động chính thức, Việt Nam cần có khung pháp lý quy định chặt chẽ rõ ràng các hoạt động để kiểm tra, thanh tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh các hoạt động biến tướng.

–  Đối với nhà đầu tư, để hạn chế rủi ro trong việc không thu hồi được vốn cho vay, nhà đầu tư cần cẩn thận trong việc lựa chọn các cá nhân, tổ chức có uy tín, mô hình hoạt động minh bạch.

– Hoạt động cho vay ngang hàng dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại vì vậy muốn hoạt động này phát triển an toàn, hiệu quả, cần chú trọng nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn (big data), kiến thức và kỹ năng quản lý rủi ro công nghệ thông tin để có thể kịp thời ngăn chặn các hành vi phá hoại dẫn đến rủi ro xảy ra đối với các công ty cho vay ngang hàng.

Tóm lại, mô hình cho vay ngang hàng là một sáng tạo của nền kinh tế, nó hỗ trợ đáp ứng nhu cầu vốn phi chính thức, đa dạng hóa kênh đầu tư, tạo điều kiện để những tổ chức cá nhân gặp khó khăn trong tiếp cận với các dịch vụ cho vay truyền thống trong điều kiện nước ta hiện nay. Tuy nhiên, trước khi cấp phép cho các công ty này hoạt động, Chính phủ và các cơ quan chức năng có liên quan cần nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế, mô hình và kinh nghiệm của các nước trên thế giới để xây dựng hành lang pháp lý phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cần nâng cao trách nhiệm, các quy định chế tài giữa các bên tham gia vào hoạt động này để các bên có sự ràng buộc chặt chẽ khi tham gia để khi rủi ro xảy ra các bên đều chịu trách nhiệm phối hợp cùng nhau giải quyết, đồng thời cần có sự phối kết hợp của các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương…  

Xem thêm: “Vấn đề kinh doanh của cho vay ngang hàng P2P tại Việt Nam


Fintech Việt Nam là cổng thông tin cập nhật về công nghệ liên trong lĩnh vực Fintech tại Việt Nam và các xu hướng fintech trên thế giới.

Email: info@innotech-vn.com

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here